Kết quả Xếp hạng Tín nhiệm
Hà Nội, ngày 12 tháng 06 năm 2025 - Công ty Cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating) đánh giá xếp hạng tín nhiệm tổ chức phát hành dài hạn ở mức A- đối với Công ty Tài chính tiêu dùng Trách nhiệm hữu hạn MB Shinsei (Mcredit). Triển vọng đối với mức xếp hạng A- của Mcredit là ổn định. Đây là xếp hạng lần đầu tiên của VIS Rating đối với Mcredit.
TÓM TẮT CÁC YẾU TỐ CHÍNH
| Cực kỳ yếu | Rất yếu | Yếu | Dưới trung bình | Trung bình | Trên trung bình | Mạnh | Rất mạnh | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đánh giá độc lập | ▲ | |||||||
| Rủi ro tài sản | ▲ | |||||||
| Vốn | ▲ | |||||||
| Khả năng sinh lời | ▲ | |||||||
| Dòng tiền & Thanh khoản | ▲ |
| Thấp | Trung bình | Cao | Rất cao | Cực kỳ cao | |
|---|---|---|---|---|---|
| Hỗ trợ từ công ty liên kết | ▲ | ||||
| Hỗ trợ từ chính phủ | ▲ |
Cơ sở xếp hạng tín nhiệm
Mức xếp hạng tổ chức phát hành dài hạn A- của Mcredit phản ánh năng lực độc lập của công ty ở mức trung bình và kỳ vọng của chúng tôi về khả năng hỗ trợ ở mức cao của công ty liên kết và hỗ trợ ở mức thấp của Chính phủ trong thời điểm cần thiết. Đánh giá năng lực độc lập của công ty thể hiện khả năng sinh lời, vốn, dòng tiền và thanh khoản ở mức trung bình, và rủi ro tài sản ở mức dưới trung bình so với các doanh nghiệp cùng nhóm .
Mcredit, được thành lập vào năm 2016, là một công ty tài chính liên doanh do Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MBB), một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, sở hữu 50% và Ngân hàng SBI Shinsei, một tổ chức tài chính lớn của Nhật Bản, sở hữu 49%.
Kể từ khi thành lập, Mcredit đã nhanh chóng mở rộng quy mô để trở thành công ty tài chính lớn thứ ba tại Việt Nam xét theo tổng tài sản, chiếm 10% thị phần trong số 16 công ty tài chính tính đến cuối năm 2024. Danh mục cho vay của công ty chủ yếu bao gồm cho vay tiền mặt (54%), theo sau là cho vay hàng tiêu dùng, xe hai bánh, cho vay ngoài tiêu dùng (cho vay doanh nghiệp) (13% mỗi sản phẩm) và thẻ tín dụng (7%).
Phục vụ gần 3.4 triệu khách hàng cá nhân tiệm cận phân khúc ngân hàng, Mcredit tận dụng các quan hệ đối tác chiến lược trên khắp các nền tảng bao gồm ngân hàng, viễn thông, ví điện tử, thương mại điện tử và mạng xã hội, được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 26,800 điểm thanh toán trên toàn quốc. Là công ty con lớn nhất của MBB tính theo tổng tài sản, Mcredit được hưởng lợi từ mạng lưới hoạt động rộng khắp và cơ sở khách hàng của MBB để tiếp cận các phân khúc khách hàng chưa được ngân hàng khai thác cũng như bán chéo sản phẩm tài chính cho các khách hàng doanh nghiệp của MBB.
Chúng tôi đánh giá rủi ro tài sản của Mcredit ở mức 'Dưới trung bình', chủ yếu do sự tăng trưởng nhanh chóng của hoạt động cho vay tín chấp rủi ro cao trong những năm gần đây, dẫn đến chất lượng tài sản suy giảm và chi phí tín dụng tăng mạnh.
Trong 5 năm qua, tổng dư nợ cho vay của Mcredit có mức tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 26%, vượt xa các công ty cùng nhóm là 5%. Phần lớn tăng trưởng tập trung tại các khoản cho vay tiền mặt và thẻ tín dụng cho những cá nhân tiệm cận phân khúc ngân hàng.
Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ nợ có vấn đề của công ty cũng tăng lên 8.1% từ mức 7.8% tại năm trước đó. Nếu loại trừ các khoản cho vay ngoài tiêu dùng, tỷ lệ nợ có vấn đề trong danh mục cho vay tiêu dùng ở mức 9.4%. Tỷ lệ xóa nợ ròng trên bình quân dư nợ cho vay tăng lên 13.8% năm 2024 từ mức 10.2% của một năm trước.
Ngoài ra, tỷ lệ nợ nhóm 2 trong danh mục cho vay tiêu dùng của công ty duy trì cao ở mức 25% đến cuối năm 2024, cao hơn trung bình của các công ty cùng nhóm là 9%. Chúng tôi lưu ý rằng việc cải thiện chất lượng tài sản của công ty diễn ra chậm hơn so với các công ty cùng nhóm trong năm 2024, do hoạt động thu nợ gặp khó khăn từ rủi ro gian lận của khách hàng, định hướng tăng trưởng mạnh trong 5 năm qua, cùng mô hình kinh doanh tập trung vào các sản phẩm rủi ro cao của công ty.
Theo ban lãnh đạo, Mcredit đã thực hiện các bước để cải thiện hoạt động quản lý rủi ro và giảm nợ xấu bằng cách áp dụng các hoạt động cho vay dựa trên dữ liệu và tinh chỉnh các sản phẩm cho vay. Là một phần trong các biện pháp mới được triển khai kể từ năm 2024, công ty đã tăng cường chọn lọc khách hàng và phát hiện gian lận sớm bằng cách tích hợp kết quả mô hình chấm điểm khả tín của Bộ Công An, bên cạnh các dữ liệu về khách hàng vay (ví dụ: thu nhập, lịch sử tín dụng, mạng xã hội, hành vi chi tiêu). Công ty cũng sẽ điều chỉnh các sản phẩm cho vay với các khoản vay nhỏ hơn, ngắn hạn hơn để phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng, đồng thời thắt chặt chính sách thẻ tín dụng để hạn chế ứng trước tiền mặt và thúc đẩy việc sử dụng dựa trên tiêu dùng.
Do nợ quá hạn (gồm nợ nhóm 2 và nợ có vấn đề) vẫn ở mức cao, định hướng của công ty tiếp tục tăng trưởng mạnh và mô hình kinh doanh tập trung vào các sản phẩm rủi ro, chúng tôi kỳ vọng tỷ lệ hình thành nợ xấu sẽ vẫn ở mức cao trong 12-18 tháng tới. Đặc biệt, chúng tôi lo ngại về tác động tiêu cực từ thuế quan đối ứng của Mỹ lên thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng Mcredit. Ban lãnh đạo ước tính khoảng 10% khách hàng của công ty làm việc trong các ngành thâm dụng lao động và khu công nghiệp có nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi mức thuế quan cao hơn.
Chúng tôi định vị khả năng sinh lời của Mcredit ở mức 'Trung bình', phản ánh sự suy giảm trong tỷ suất sinh lời trên tài sản hữu hình bình quân (ROAA) trong ba năm qua, chủ yếu là do biên lãi ròng (NIM) liên tục giảm và chi phí tín dụng tăng mạnh.
Tính đến cuối năm 2024, ROAA trung bình của công ty đã giảm xuống mức thấp nhất trong 5 năm là 0.2%, thấp hơn mức trung bình của các công ty cùng nhóm là 3.6%. Mặc dù có nguồn vốn chi phí thấp từ các cổ đông chiến lược, NIM của Mcredit đã giảm xuống còn 13.2% vào năm 2024 từ mức 17.2% vào năm 2023, khi công ty mở rộng cho vay ngoài tiêu dùng (cho vay doanh nghiệp) với lợi suất thấp hơn. Tại cuối năm 2024, các khoản cho vay này chiếm 13% tổng dư nợ của công ty.
Tương tự như các công ty cùng nhóm có nợ xấu cao từ các khoản cho vay tiền mặt, chi phí tín dụng của Mcredit đã tăng đáng kể vào năm 2024, chiếm 98% lợi nhuận trước dự phòng.
Theo ban lãnh đạo, công ty đặt mục tiêu tăng trưởng cho vay ở mức 15-20% vào năm 2025. Ngoài ra, công ty sẽ tiếp tục tối ưu hóa chi phí hoạt động và tăng hiệu quả thông qua việc liên tục số hóa quy trình kinh doanh của mình. Vào cuối năm 2024, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) ở mức 30%, thấp hơn mức trung bình của các công ty cùng nhóm là 34%.
Trong 12-18 tháng tới, chúng tôi đánh giá NIM của Mcredit sẽ chưa có sự cải thiện đáng kể và do đó, lợi nhuận của công ty sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng bởi chi phí tín dụng.
Chúng tôi định vị mức vốn của Mcredit ở mức 'Trung bình', phản ánh đánh giá của chúng tôi về bộ đệm hấp thụ rủi ro thấp đối với mô hình kinh doanh và hồ sơ tài sản rủi ro cao của công ty.
Tính đến cuối năm 2024, vốn chủ sở hữu hữu hình/ tổng tài sản (TCE/TA) của công ty đạt 8.7%, thấp hơn nhiều so với các công ty cùng nhóm là 21.3%. Theo Thông tư 23/2020/TT-NHNN, tỷ lệ an toàn vốn của công ty là 10.9% tính đến cuối năm 2024, cao hơn so với ngưỡng quy định tối thiểu là 9%. Công ty có kế hoạch huy động vốn cấp 2 mới bằng cách phát hành trái phiếu tăng vốn trong 12 tháng tới để hỗ trợ nhu cầu vốn và tăng trưởng cho vay.
Chúng tôi lưu ý rằng mặc dù công ty không trả cổ tức bằng tiền mặt, nhưng khả năng tạo vốn nội bộ của công ty sẽ vẫn bị ảnh hưởng do lợi nhuận suy giảm.
Chúng tôi đánh giá dòng tiền và thanh khoản của Mcredit ở mức 'Trung bình'.
Về dòng tiền, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (FFO) của công ty ở mức 10% tổng vay nợ vào cuối năm 2024, thấp hơn mức trung bình của các công ty cùng nhóm là 21%. Chúng tôi lưu ý rằng dòng tiền của công ty đã suy giảm trong những năm gần đây do lợi nhuận yếu hơn.
Về thanh khoản, chúng tôi đánh giá khả năng bao phủ nợ đến hạn của công ty là 19.5% vào cuối năm 2024, cao hơn mức trung bình của các công ty cùng nhóm là 11%. Tài sản thanh khoản, bao gồm tiền mặt, trái phiếu Chính phủ và các khoản gửi, cho vay liên ngân hàng, chiếm 16% tổng tài sản.
Chúng tôi cho rằng thanh khoản là điểm yếu chính của các công ty tài chính vì các công ty chủ yếu dựa vào nguồn vốn thị trường mang tính nhạy cảm với niềm tin để hỗ trợ tăng trưởng cho vay. Các công ty phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn sẽ dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc thanh khoản.
Ngược lại, mặc dù phần lớn (90%) nguồn vốn của Mcredit đến từ nguồn ngắn hạn, chúng tôi cho rằng rủi ro thanh khoản được quản lý khá tốt, thể hiện qua sự hỗ trợ nguồn vốn từ các cổ đông của công ty. Vào cuối năm 2024, khoảng 37% nguồn vốn ngắn hạn đến từ MBB và các công ty con; 11% nguồn vốn ngắn hạn khác là tiền gửi của khách hàng doanh nghiệp trong mạng lưới của MBB. Thêm vào đó, Mcredit cũng nhận được nguồn vốn từ cổ đông lớn khác của mình, Ngân hàng SBI Shinsei, để hỗ trợ hoạt động cho vay cốt lõi của mình.
Xếp hạng tổ chức phát hành của Mcredit có tính đến sự hỗ trợ từ công ty liên kết. Chúng tôi kết hợp khả năng hỗ trợ ở mức cao từ MBB cho Mcredit.
Đánh giá của chúng tôi đến từ việc tỷ lệ sở hữu đáng kể của MBB tại Mcredit, việc chia sẻ thương hiệu, tầm quan trọng của Mcredit trong chiến lược dài hạn của MBB, cũng như mức độ tích hợp cao trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược và triển khai giữa MBB và Mcredit. Sự tích hợp này được chứng minh bằng lịch sử MBB cung cấp nguồn vốn để hỗ trợ tăng trưởng kinh doanh cho Mcredit. Chúng tôi nhận định MBB có năng lực cao để hỗ trợ cho các công ty con chính.
Triển vọng đối với xếp hạng tổ chức phát hành dài hạn của Mcredit là ổn định, phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng hồ sơ tín nhiệm của công ty sẽ duy trì ổn định trong 12-18 tháng tới.
Yếu tố có thể dẫn đến nâng/hạ bậc
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm: Doanh nghiệp phi tài chính.
Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng tham khảo phương pháp xếp hạng tín nhiệm đầy đủ của chúng tôi tại: đây
Lịch sử xếp hạng tín nhiệm
| Ngày | Loại xếp hạng | Xếp hạng | Triển vọng | Hành động |
|---|---|---|---|---|
| 12/06/2025 | Tổ chức phát hành dài hạn | A- | Ổn định | Xếp hạng lần đầu |
Công bố theo quy định pháp luật
Để biết thêm thông tin chi tiết về các biểu tượng và định nghĩa xếp hạng của VIS Rating, vui lòng xem tại: đây
Tỷ lệ sở hữu của Mcredit tại VIS Rating: 0%
Tỷ lệ sở hữu Mcredit do nhân viên VIS Rating nắm giữ: 0%
Các trường hợp chuyên viên phân tích, thành viên Hội đồng xếp hạng tín nhiệm chấm dứt tham gia hợp đồng xếp hạng tín nhiệm trước khi hợp đồng hết hạn và lý do chấm dứt: 0
VIS Rating tuân thủ chính sách độc lập nghiêm ngặt theo các quy định hiện hành về quản lý việc cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam. Cam kết này cũng bao gồm việc tuân thủ chính sách xung đột lợi ích của chúng tôi, nhằm duy trì tính khách quan và độc lập khi nêu ý kiến về xếp hạng tín nhiệm.
Xếp hạng đã được công bố cho tổ chức được xếp hạng hoặc (các) đại lý được chỉ định của tổ chức đó và không có sửa đổi nào phát sinh từ việc công bố này.
Xếp hạng này được yêu cầu.
Các công bố theo quy định pháp luật trong công bố kết quả xếp hạng này áp dụng cho xếp hạng tín nhiệm, triển vọng xếp hạng liên quan hoặc đánh giá xếp hạng, nếu có.
Vui lòng xem https://visrating.com để biết mọi thông tin cập nhật về những thay đổi đối với nhà phân tích xếp hạng chính và pháp nhân của VIS Rating đã đưa ra xếp hạng.
Vui lòng xem mục xếp hạng trên trang tổ chức phát hành/thực thể trên https://visrating.com để biết các công bố theo quy định pháp luật bổ sung cho từng xếp hạng tín nhiệm.
Chuyên viên & hội đồng
Số báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm
Báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm được công bố ra công chúng số: VN0107349019-001-120625
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
Các xếp hạng tín nhiệm, các đánh giá, các quan điểm khác, và ấn phẩm của VIS Rating không nhằm được sử dụng bởi các nhà đầu tư không chuyên nghiệp và việc nhà đầu tư không chuyên nghiệp sử dụng xếp hạng tín nhiệm, đánh giá, và các quan điểm khác hoặc ấn phẩm của VIS Rating khi quyết định đầu tư là không cẩn trọng và không phù hợp. Nếu không chắc chắn, vui lòng liên hệ với cố vấn tài chính hoặc cố vấn chuyên nghiệp khác của quý vị.